Lạc lối dưới thung lũng Mắt Trời Thứ năm, 19/07/2012

(TN&MT) - Bãi vàng bản Ná lúp xúp, chơ vơ năm, bảy túp lều hoang. Rải rác ao, hồ xanh lơ, cả ngày không một tăm sóng gợn. Bốn bề đá dựng giăng thành và dốc “tay vượn” thoát khỏi tầm mắt của người H’mông. Dân bản xứ Thần Sa (Võ Nhai, Thái Nguyên) gọi bản Ná là thung lũng Mắt Trời.

 Lâu lắm, cũng ngót 7 thập niên, từ ngày người Tàu sang khai phá mỏ vàng, Mắt Trời mới tìm lại cái nhìn bình yên hiếm hoi đến thế. Sự bình yên trắc trở bỏ lại bao nỗi niềm dang dở, vùi lấp bên dòng suối Khau Âu, đêm ngày vẫn rên xiết, cuồn cuộn chảy từ Bắc Kạn vào tới tận “ruột già” thung bản.

Ngược dòng Khau Âu tìm lời ru vàng đá

    Tôi đã đi theo người cán bộ H’mông, Phó Đội trưởng Đội Quản lý bãi vàng bản Ná Vừ Văn Vàng suốt một đêm và một ngày, leo lên ba ngọn núi “vắt xanh”, vượt bốn, năm con dốc “hái mây” bạt ngàn lau trắng, ăn hết mười hai ống nếp nương để tới được nơi bắt nguồn của dòng suối Khau Âu, giáp ranh tỉnh Bắc Kạn. Dòng suối mà cái Tày Lý Văn Trang, Chủ nhiệm Hội Nông dân xóm Xuyên Sơn kể với cái nhà báo Kinh là trâu uống vào trâu chết, người sây sát chân lội qua thì tối về sưng tấy, mưng mủ, uốn ván rồi cũng chết.

Chúng tôi cứ men theo dòng suối từ thung lũng Mắt Trời, băng qua không biết bao nhiêu xóm làng. Ngủ nhờ nhà sàn của người H’mông, người Tày. Đêm bên bếp lửa bập bùng, cán bộ Vàng nói chuyện với bà con tới tờ mờ sáng. Tôi ngủ gục ngay rạng canh hai, đầu ngoẹo vào vách liếp, lơ mơ nghe tiếng lợn, bò dưới gầm sàn thở pho pho như tiếng gió đại ngàn thổi về rầu rĩ. Ven lưng núi, suối Khau Âu róc rách chen lẫn lời ru ca thổn thức của thiếu nữ Tày Lý Thị Hà Khương: “Ba năm núi lại hóa đồi/Hai năm đồi lại làm mồi cho sông/Người đi quê ở núi Hồng/Đem thân lên suối ngược dòng Khau Âu”. Quê gốc Khương ở dưới chân mỏ than núi Hồng (Phúc Khánh, Quán Triều), cách Thần Sa gần 50 cây số, nhưng em sinh ra ở một bản toàn người Tày tận Đình Lập (Lạng Sơn), bố mẹ bốn mùa làm nương rẫy, nuôi 5 đứa em lít nhít, 4 gái, 1 trai, đứa nhỏ nhất mới hơn 3 tuổi, không đủ ăn, đến tháng 3 hoa gạo rực trời, nhà Khương lại hết gạo, ngô phải vào rừng tìm măng, đào củ nâu chát xít về trừ bữa, Khương năm nay cập kê 17, là gái lớn trong nhà nên phải “ra đời” bươn chải. Người núi Hồng lên thung lũng Mắt Trời đãi vàng đông lắm, chẳng biết những câu thơ ru núi, ru rừng, ru bao kiếp người lưu lạc ấy được tự biên từ bao giờ, nhưng ai ai cũng thuộc, Khương bảo, dạo cuối năm ngoái, bãi vàng bản Ná trở lại “bình yên”, chính quyền quản chặt không cho người đến đào bới, bà con lũ lượt kéo nhau ngược nguồn Khau Âu, chặn dòng nước cặn của các cơ sở khai thác bên Bắc Kạn, mới có vài tháng, em đã khắc điệu buồn tha hương đó lên 66 gốc cây và 30 vách đá. Càng ngày, càng ngày đoàn người cứ lên cao, lên cao, mải miết kiếm tìm, miệt mài hy vọng mang theo cái lời ru vàng đá chống chếnh, mênh mang đến cùng tận địa đàng.

Trưa hôm sau, lên tới độ cao hơn 300m, những túp lều chênh vênh hiện ra lác đác, những nong, nia, dần, sàng vứt nhặng xị hai bên bờ suối. “Phía Bắc Kạn họ có máy móc lớn, được chính quyền cho phép làm đấy, bà con ở đây chỉ đào đãi thô sơ, hứng “cặn” từ tỉnh bạn đổ sang, thủy ngân và nhiều loại hóa chất cuốn theo, độc lắm”, Phó Đội trưởng Vàng nói. Giữa con suối những tấm ván mục ruỗng trôi nổi lềnh bềnh, từng nhóm 4-5 người đi ủng cao su quá gối, tay bọc nilon sát nách lội bì bõm khiêng các thân gỗ đường kính 30-40cm chặn ngang dòng nước. Người đàn bà Thái tên Lường Mến đang gỡ đống lưới sắt mắt cáo li ti rũ bột vàng có thân hình khoảng ngoài 30, nhưng khuôn mặt mang nét thời gian độ tứ tuần, đôi mắt ưu tư, đắm đuối vào từng giọt nước nhỏ xuống cái nồi nhôm méo mó hanh hao chút gam màu lóng lánh. “Nhà chị ở đâu?”. “Trên núi”. “Cả nhà cùng xuống suối?”. “Nhà ai chả thế”. “Các cháu không đi học?”. “Bỏ rồi. Hỏi nhiều thế để làm gì, chọc cả vào tay rồi. Buốt quá”. Qua làn áo mưa mỏng, giọt máu tia tía rỉ ra, nhòe nhoẹt, Mến vội đưa lên miệng ngậm chặt, ánh mắt đảnh đót nhìn đay đả vào tôi. Tròn lửng.

Sáng ngày thứ ba, trở lại thung lũng Mắt Trời, sương chiều thương vương trên những triền núi đá. Gió tịnh. Ao, hồ biêng biếc bằng phẳng như một thảm sơn đông cô, sắt lạnh. Bóng tối loeo hoeo tựa gã khổng lồ da nhím thọc sâu đến từng khe vực. Tê cóng. Ngôi miếu thờ vong hồn bao kiếp đào vàng lạnh lẽo đón chúng tôi ngay đầu bản…

Xa lắm bình yên

“Bốn mùa không tiếng gió/Bốn mùa thiếu nắng vàng/Bốn mùa nghe sương thở/Bình yên bao giờ sang”. Đêm dưới thung bản Ná, tôi nghe Phó Đội trưởng Vừ Văn Vàng ngâm những câu thơ đó, anh bảo, con gái của Đội trưởng Minh, học dưới xuôi, Tết về thăm bố làm để tặng đội. Chiều xuống, nhìn núi, nhìn hồ nghĩ mà đúng. Sáng ra nghe tiếng thiếu nữ bản tíu tít lên chợ, chỉ để xin gánh nước sạch về dùng, ngẫm mà đau.

“Ngày leo núi, đêm uống rượu”, câu cửa miệng ấy của người H’mông, người Tày, qua gần 24 giờ, tôi đã quen từ lý thuyết đến thực hành. Rượu cất bằng nếp nương, chỉa trên hốc đá, đựng lút chai 65, nút lá chuối khô, trong như mắt mèo, uống tới đâu bỏng ran tới đó. Cái Tày Trần Văn Tộc, Chủ tịch UBND xã Thần Sa bảo, cái Kinh Thiệu Anh đi nhiều mà không biết uống pác phần pác (trăm phần trăm) thì khó điều khiển nổi con tru (trâu) khỏe lên nương, không ở lâu dưới Mắt Trời được, con gái bản chê đấy. Đêm lờ mờ. Trăng non nhờn nhợt. Xa xa, sóc eo óc gõ loong boong vào vách đá. Ông Chủ tịch lục tục dắt chiếc “Min khờ” 100, hì hụi đạp ành ạch, giờ này đứa con trai cưng của ông đã ngủ lâu lắm, cô vợ trẻ chắc vẫn đang ngồi trên bậu cửa sồi đợi chồng. Trong lán trại Đội Quản lý bãi vàng bản Ná chỉ còn lại tôi và Đội trưởng Bùi Công Minh.

Theo các già làng ở bản kể, bãi vàng được người Tàu sang thăm dò, khai thác từ rất lâu, khoảng 6, 7 thập kỷ về trước, sau đó đến cuối những năm 80, dân dưới xuôi đi buôn chuyến, phát hiện có vàng mới đổ xô lên dựng nhà, cắm lều đào đãi. Từ đầu 2003 đến nay, huyện, tỉnh thường xuyên phối hợp truy quét, tổ chức cử cán bộ thuộc Công an huyện và Ban Chỉ huy quân sự tỉnh xuống chốt giữ. Tình hình chỉ yên ổn mấy năm đầu, khi lực lượng quản lý đã rút đi, từng nhóm người lại rầm rộ kéo lên, mang theo cả máy cẩu, xúc mua về bên Trung Quốc. Công an huyện, Ban Chỉ huy quân sự huyện, Công an xã, Dân quân xã lại phải mở đợt truy quét đốt lều lán, thu giữ máy móc, tiếp tục cắm chốt quản lý đến nay.

Sáng hôm sau, trời còn mù sương, nước ươm thành vầng trắng lóa trên vách liếp, Chủ tịch Tộc đã hộc tốc lôi tôi dậy, anh đến như gió và đi cũng như gió, phả vào người tôi luồng khí đá núi lạnh buốt: “Tớ phải lên huyện họp gấp đây, không đi cùng được rồi, “bàn giao” cho nhà báo cái Lý Văn Cầu, nó là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ xã đấy”. Hai mắt tôi còn hấp háy, tiếng máy nổ oành oành đã vút đi, bỏ lại mùi khói quánh nồng. Nghển cổ nhìn ra ngoài, vẫn không thấy cái Lý Văn Cầu đâu, trong lớp thinh không lám nhám xám, lưa thưa mưa, sương vương dầy, vọng lại chút thanh âm lách cách. Rồi một bóng người hiện ra. Rồi một cái xe đạp thồ kiểu “tải gạo vượt Trường Sơn” cũng hiện ra. Áo choàng to đùng. Nón lá rách bươm. Dép cao su tự chế. Cái Tày đến trước mặt tôi, đánh vần trịnh trọng: “Cái Kinh là nhà báo, còn tớ là Chủ tịch…”. “Thôi, thôi, cái Kinh biết rồi, Hội Chữ thập đỏ chứ gì, đằng ấy có nước chè hay nước sôi nóng không?”. “Chủ tịch Tộc chỉ dặn đem rượu thôi ”. “Lại rượu, ừ cũng được”. Sau 2 chén rượu ngô, bụng tôi cồn cào nóng, cán bộ Cầu hỏi rất bài bản: “Căn cứ các hồ sơ, diện tích quy hoạch từ ngày xưa của tỉnh thì 32,6 ha trên địa bàn là có vàng, vậy anh định đến điểm nào?”. “Cứ đi rồi tính”.

Chúng tôi lòng vòng theo dòng suối Khau Âu, nước đục ngầu, tăm sủi nhấp nhóa. “Cẩn thận, đừng để nước bắn vào người, sáng ra, hóa chất bốc hơi, hắc lắm”, Chủ tịch Cầu nói. “Thế nước sinh hoạt lấy ở đâu?”, tôi hỏi. “Đấy là cái khó nhất của bản, đất bị ô nhiễm, mất độ phì không cày cấy, trồng cây được. Xã đang lập kế hoạch đem máy lên khoan tít trên núi để lấy nước, xa lắm, phải đến 2 cây, sẽ dùng máng tre, nứa dòng xuống”. “Hiện nay thì sao?”. “Cứ 2, 3 ngày bà con lại vào gần trung tâm xã, xin người quen, gánh hoặc thồ xe đạp về bản”. “Còn công tác phòng bệnh?”. “Đa số, người dân bị bệnh về đường hô hấp, một số mắc ung thư, nguyên nhân chủ yếu do họ đào đãi ngâm mình trong nước ao, hồ nên bị nhiễm. Nhìn chung, công tác phòng trị bệnh, thực tế chưa làm được gì vì thiếu nguồn đầu tư, bà con phải “tự tránh” thôi”.

Đúng ngọ. Tiễn tôi ra đầu bản, Phó Đội trưởng Vàng và Chủ tịch Cầu xiết chặt tay: “Nhớ có báo gửi về ngay đấy. Bà con ở đây quanh năm “đói” thông tin. Thế nhé. Pây mưa (tạm biệt)”. Tôi nhìn sâu vào mắt những cán bộ “thèm người” này mà nói pây mưa như một lời hứa, nhưng tôi biết, dù bài phóng sự của mình có dài bao nhiêu, cũng không thể tỏ hết cái nỗi lòng khát khao, thăm thẳm của người dân bản Ná và nơi ấy bình yên còn xa lắm, xa lắm…

Thiệu Anh

 

Xem bài theo ngày tháng

Video

Thêm »

The player will show in this paragraph
  • Dự báo thời tiết


0C | 0F

 

 

Công an huyện Yên Định thực hiện tốt 6 điều Bác Hồ dạy

(TN&MT) - Được đánh giá là một trong những đơn vị điển hình trong việc triển khai phong trào thi đua “Công an nhân dân học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” trong nhiều năm qua, cán bộ chiến sỹ công an huyện Yên Định ( Thanh Hóa) đã không quản ngại khó khăn, bám sát cơ sở, ra sức thi đua học tập, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hành động và việc làm để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.  

Dân tộc miền núi

Người Ba Nar làng Kon K’Tu vui đón Tết Ét Đoong

(TN&MT) - Trong 2 ngày 16 và 17/1, người dân tộc Ba Na ở làng Kon K’Tu (xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum) tưng bừng đón Tết Ét Đoong (Tết Dúi). Đây là thời điểm dân làng thu hoạch xong các mùa vụ, kết thúc năm cũ để cùng nhau tổ chức ăn mừng.  

Phóng sự ghi chép

Đường sắt Điền - Việt con đường đánh thức vùng Tây Bắc (*)

(TN&MT) - Ngày 1/4/1910, đường sắt Hải Phòng – Côn Minh (đường sắt Điền Việt) được khánh thành. Một thế kỷ lịch sử xây dựng, khai thác, tuyến đường sắt này  đã đóng vai trò to lớn của nó với phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam  và Trung Quốc (TQ). Hầu hết các đô thị vùng biên giới Lào Cai - Vân Nam đều hình thành và phát triển gắn chặt với sự hưng thịnh và phát triển của tuyến đường sắt này.  

Vấn đề hôm nay

Đô thị... toát mồ hôi