Thực hiện Chiến lược phát triển bền vững biển Đông Á: Nhìn từ Philippines Thứ năm, 05/07/2012

(TN&MT) - Là  một  trong những  quốc  gia Đông Á đầu tiên tham gia xây dựng Chiến lược phát triển bền vững các vùng biển Đông Á (SDS-SEA), với những quyết sách mạnh mẽ, đến nay Philippines đã đúc kết được những kinh nghiệm tốt trong việc thực hiện quản lý tổng hợp vùng bờ.

Vịnh Batangas - điểm trình diễn lý tưởng về quản lý tổng hợp đới bờ

Từ những năm 1990 người ta đã định hướng phát triển vùng vịnh Batangas thành trung tâm công nghiệp, trung tâm hàng hải và dịch vụ cảng. Và để ngăn ngừa giảm thiểu tác động của môi trường do sự tăng trưởng kinh tế, việc quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) đã được tính đến.

Việc khởi động dự án QLTHĐB vùng vịnh Batangas khá thuận lợi khi chính quyền tỉnh Batangas chấp thuận khung QLTHĐB do Chương trình Khu vực về ngăn ngừa và quản lý ô nhiễm các biển Đông Á (tiền thân của PEMSEA) đề xuất. Điều này đã làm cho Batangas trở thành địa phương tiên phong trong thực hành QLTHĐB trong khu vực. QLTHĐB được đề xuất như một mô hình thực tiễn để triển khai các điều khoản của Bộ luật về Chính quyền địa phương, phê duyệt năm 1991. Sự phân quyền, quy định trong bộ luật đã được thực thi, cho phép các địa phương tự kiểm soát và giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có những vấn đề về bảo vệ môi trường.

Dự án trình diễn BLTHĐB vùng vịnh Batangas được chính thức triển khai ngày 28 tháng 4 năm 1994 với việc ký kết Bản ghi nhớ giữa chính quyền tỉnh Batangas và Chương trình Khu vực về ngăn ngừa và quản lý ô nhiễm các biển Đông Á. Gần 20 năm qua, Batangas đã hoàn thành chu trình QLTHĐB thứ hai, đang ở chu trình thứ 3. Kết quả đã mở rộng hoạt động quản lý ô nhiễm vùng bờ biển và thống nhất đối với toàn vùng vịnh, lồng ghép với các hoạt động quan trắc môi trường của Chính phủ. Hiện nay, địa phương hoàn toàn làm chủ hoạt động quan trắc và phân tích môi trường và điều quan trọng là Chương trình quan trắc môi trường tổng hợp do dự án QLTHĐB xây dựng đã được áp dụng.

Phục hồi rừng, quản lý rừng ngập mặn

Trong quá khứ, rừng ngập mặn trên toàn Philippines đã bị khai thác quá mức và suy giảm nghiêm trọng từ 500.000 ha năm 1920 giảm còn 117.000 ha năm 1995. Với việc nhận ra tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong việc chắn gió bão và mối liên hệ mật thiết giữa việc sụt giảm sản lượng cá đánh bắt với sự mất rừng ngập mặn, Chính phủ Philippines đã có những biện pháp và chương trình khác nhau để phục hồi và quản lý rừng ngập mặn như việc hình thành Công viên sinh thái rừng ngập mặn nằm ở đảo Nabuswang thuộc thị trấn Binalbagan. Từ năm 1994 với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người dân ở đây đã trồng rừng ngập mặn như là một biện pháp can thiệp để ngăn chặn việc xói lở và mất đất khiến hòn đảo đứng trước nguy cơ biến mất trong mùa gió bão. So với 18 năm trước, tổng diện tích đã tăng lên được thêm 58 ha thành 80 ha hiện nay - chủ yếu là mấm đen, rất ít bần và đước. Theo kế hoạch dài hạn, diện tích rừng ở đây sẽ tiếp tục được mở rộng lên 150 ha.

Song song với việc trồng rừng, các chiến dịch về giáo dục môi trường và phổ biến thông tin về lợi ích của rừng đối với cộng đồng địa phương (giảm tác động của bão, giảm năng lượng sóng, bảo vệ khỏi gió và cung cấp tài nguyên thủy sản) đã được thực hiện liên tục đã góp phần nâng cao ý thức sở hữu tài nguyên của người dân. Chính quyền địa phương còn tư vấn giúp người dân tự xây dựng quy chế quản lý của cộng đồng, quy định về việc cấm chặt phá hay lấn chiếm đất rừng. Những quy định này được thực thi một cách hiệu quả thông qua các đội giám sát thực thi pháp luật tự nguyện địa phương. Đặc biêt là đội bảo vệ rừng "Bantay Katunggan" và đội bảo vệ tài nguyên biển và thủy sản "Bantay Dagat". Các đội này hoạt động độc lập gắn công tác bảo vệ với hoạt động nghề nghiệp của họ. Từ năm 2010, chính quyền địa phương (thị trấn Binalbagan) đã quyết định trợ giúp cho các đội này với mức 2.000 Peso mỗi người 1 tháng (bảo hiểm, nhiên liệu tuần tra và lương thực). Từ đó, những nỗ lực được thực hiện nhằm bảo vệ hiệu quả rừng ngập mặn thông qua các biện pháp tuyên truyền hợp lý các lợi ích của rừng ngập mặn đã được phổ cập trên phạm vi rộng lớn hơn.

Ngoài ra, việc thực thi các Chương trình QLTHVB trong Chiến lược phát triển bền vững biển Đông Á tại Philippines còn rất phong phú với việc thành lập các Khu Bảo tồn biển, rừng ngập mặn, tổ chức truyền thông lôi kéo sự tham gia của cộng đồng; thành lập Hội đồng Quản lý nguồn lợi thủy sản địa phương (FARMC), xây dựng Trung tâm Tái chế và Quản lý rác Sinh thái; chương trình Phát triển và Phục hồi lưu vực thượng nguồn thông qua một kế hoạch tài chính sáng tạo với mục tiêu hướng tới phát triển bền vững, bảo tồn đất và đa dạng sinh học giữa những cộng đồng dân cư địa phương… Từ  đó, một liên minh giữa các chính quyền địa phương để quản lý tài nguyên biển đã được hình thành. Với sức mạnh tổng hợp của mình, liên minh có cơ hội vượt qua những hạn chế do thiếu nguồn vốn, thiếu năng lực hay các kiến thức chuyên môn của từng thành viên để đảm bảo cho sự thành công của Chiến lược phát triển bền vững vùng bờ biển trên đất nước này.

K.Liên

 

 

 

Xem bài theo ngày tháng

Video

Thêm »

The player will show in this paragraph
  • Dự báo thời tiết


0C | 0F

 

 

Công an huyện Yên Định thực hiện tốt 6 điều Bác Hồ dạy

(TN&MT) - Được đánh giá là một trong những đơn vị điển hình trong việc triển khai phong trào thi đua “Công an nhân dân học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy” trong nhiều năm qua, cán bộ chiến sỹ công an huyện Yên Định ( Thanh Hóa) đã không quản ngại khó khăn, bám sát cơ sở, ra sức thi đua học tập, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hành động và việc làm để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.  

Dân tộc miền núi

Người Ba Nar làng Kon K’Tu vui đón Tết Ét Đoong

(TN&MT) - Trong 2 ngày 16 và 17/1, người dân tộc Ba Na ở làng Kon K’Tu (xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum) tưng bừng đón Tết Ét Đoong (Tết Dúi). Đây là thời điểm dân làng thu hoạch xong các mùa vụ, kết thúc năm cũ để cùng nhau tổ chức ăn mừng.  

Phóng sự ghi chép

Đường sắt Điền - Việt con đường đánh thức vùng Tây Bắc (*)

(TN&MT) - Ngày 1/4/1910, đường sắt Hải Phòng – Côn Minh (đường sắt Điền Việt) được khánh thành. Một thế kỷ lịch sử xây dựng, khai thác, tuyến đường sắt này  đã đóng vai trò to lớn của nó với phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam  và Trung Quốc (TQ). Hầu hết các đô thị vùng biên giới Lào Cai - Vân Nam đều hình thành và phát triển gắn chặt với sự hưng thịnh và phát triển của tuyến đường sắt này.  

Vấn đề hôm nay

Đô thị... toát mồ hôi